Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Mỹ nhân Nga - ký ức của một văn hào lưu vong

"Mỹ nhân Nga" - quyển đầu tiên trong bộ sách 4 quyển "Tổng tập truyện ngắn Nabokov" vừa được NXB Văn học và Zenbook ấn hành tại Việt Nam. Bộ sách dày hơn 1.000 trang tiếng Anh này được in lần đầu vào năm 1995, nghĩa là 18 năm sau khi Nabokov qua đời tại Thụy Sỹ.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2016

Nhà thơ Hoàng Quý: Những câu thơ vút lên bên bờ sóng

Ngày thơ Việt Nam lần thứ 7 năm 2009, tại sân Thái Học ở Văn Miếu, nhà thơ Hoàng Quý đọc trích đoạn trường ca "Đối thoại trắng". Đấy là khúc ông viết về Nhân dân: "Ôi! Nhân dân kiêu dũng của tôi/ Nhân ái và thật thà/ Cởi mở và bồng bột/ Người nâng thuyền mà nổi trôi như lá/ Người bộc trực, tuềnh toàng/ Cả nghe và hiếu thiện/ Tin đạo mà chở đạo/ Đạo rối/ Thuyền chao/ Qua mỗi cửa bão giông lại đắm đuối nâng thuyền/ Néo chèo theo lái/ Bến yên bình một giấc tít xa/ Mà người có bao giờ không nhẹ dạ". 

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2016

Trả tiền sáng tác bằng... trứng và lợn

Đó là mùa hè năm 1985. Nhạc sỹ Nguyễn Đình San và cố nhà thơ Trần Mạnh Thường được một trại chăn nuôi ở huyện Thanh Oai (Hà Sơn Bình cũ) mời về thăm để sáng tác và viết báo. 

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Thi sĩ Lưu Trọng Lư: Thanh khiết một hồn thơ

Bài thơ "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư có những câu thơ tạc vào tâm trí độc giả, vào ký ức không gian và thời gian của thơ Việt như "... Em không nghe rừng thu/ Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô...". Tuy không phải là bài thơ đầu tay, nhưng lại là bài thơ giàu ấn tượng nhất của Lưu Trọng Lư ở buổi đầu thơ ca, khiến như một tiền định với cuộc đời ông: suốt cuộc đời, người thi sỹ ấy như một con nai vàng ngơ ngác, sống và nghĩ thanh khiết như chính hồn thơ của ông...

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Chuyện về ‘hoàng hậu hai triều’ Dương Vân Nga

Là người phụ nữ có quyết định ảnh hưởng đến cả vận mệnh dân tộc khi tôn Lê Hoàn lên làm vua thay nhà Đinh, Dương Vân Nga đã bị sử cũ phê phán gay gắt.
Dương Vân Nga là Hoàng hậu của 2 vị Hoàng đế thời kỳ đầu lập quốc trong lịch sử Việt Nam - Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Bà đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sangnhà Tiền LêTuy nhiên, bà không được chính sử ghi chép nhiều. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ cho biết bà họ Dương, không nói bà tên là gì, cũng không viết xuất thân của bà ra sao.
Còn theo truyền tụng dân gian, Dương Vân Nga là con gái của ông Dương Thế Hiển, quê ở vùng Nho Quan, Ninh Bình. Sinh thời, Vân Nga rất xinh đẹp. Bà có khuôn mặt bầu bĩnh rất phúc hậu song vẫn có nét thanh tú, cao sang. Nước da trắng hồng và cặp mắt phượng, mày ngài lúc nào cũng long lanh đầy tình tứ.
Năm 968, sau khi dẹp xong "loạn 12 sứ quân", thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi vua, lấy tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình.
chuyen-ve-hoang-hau-hai-trieu-duong-van-nga
Tượng hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga tại đền vua Lê ở Hoa Lư.Ảnh tư liệu
Trong một lần đến vùng Nga My, nghe tiếng hát giọng trong trẻo của một cô gái, Đinh Bộ Lĩnh xuống ngựa, cho người gọi cô gái, nhưng không thấy. Ông chợt nghĩ đến người bạn bố mình xưa kia là Tướng quân Dương Thế Hiển ở gần đây, bèn ghé vào thăm. Thế Hiển sai con gái Vân Nga bưng nước mời khách. Nàng có tiếng nói hệt giọng hát Đinh Bộ Lĩnh vừa nghe. Nhà vua xin được đón cô gái về kinh đô, lúc đó Vân Nga tròn 16 tuổi. Về sau, bà là một trong 5 hoàng hậu của vua Đinh, được vua rất yêu chiều do có nhan sắc và hiểu biết.
Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh và hoàng tử Đinh Liễn bị hoạn quan Đỗ Thích giết hại. Triều thần tôn Vệ Vương Đinh Toàn (mới được 6 tuổi) lên ngôi Hoàng đế, tôn Dương Vân Nga làm Hoàng Thái Hậu. Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành) được Dương Thái hậu chọn làm Nhiếp chính, sau tự xưng là Phó Vương.  
Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy quyền lực rơi vào tay Lê Hoàn, lại nghi Dương Thái hậu cùng Lê Hoàn tư thông nên kéo quân về Hoa Lư tiến đánh nhưng bị Lê Hoàn đánh bại. Ở biên giới phía Bắc, giặc Tống lợi dụng tình hình Đại Cồ Việt rối ren, chuẩn bị cất binh xâm lược.
Năm 980, trước nguy cơ xâm lược của quân Tống, Dương hoàng hậu cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm Hoàng đế, lập nên nhà Tiền Lê. Việc này, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều có chép lại:
"Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: 'Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn'".
Quân sĩ nghe vậy đều hô 'vạn tuế'. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Lê Hoàn lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Phúc vào đầu năm 980, giáng phong Đinh Toàn làm Vệ Vương".
chuyen-ve-hoang-hau-hai-trieu-duong-van-nga-1
Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư (Ninh Bình). Ảnh: Wikipedia
Tháng 7/980 quân Tống xâm lược Đại Cồ Việt. Lê Hoàn vừa lên ngôi đã phải triển khai lực lượng kháng chiến đánh giặc bảo vệ đất nước. Đến tháng 3/981, cuộc kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy thắng lợi hoàn toàn. Vua Tống buộc phải xuống chiếu lui quân. Sau thắng lợi, Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng đất nước. 
Năm 982, Lê Đại Hành phong Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Chính sử không cho biết hai người có bao nhiêu con, nhưng theo các thần tích ở cố đô Hoa Lư thì họ có một cô con gái tên Lê Thị Phất Ngân. Về sau, công chúa Phất Ngân được gả cho cho Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn - người mở đầu triều đại nhà Lý.
Cuối đời, hoàng hậu Dương Vân Nga tu hành tại động Am Tiên ở phía đông kinh thành Hoa Lư. Tại đây còn lưu giữ một bài thơ truyền khẩu khắc trên tường Chùa tóm tắt về cuộc đời bà: "Hai vai gồng gánh hai Vua/ Hai triều hoàng hậu, tu Chùa Am Tiên/ Theo chồng đánh Tống bình Chiêm/ Có công với nước, vô duyên với đời...". Năm 1000, bà qua đời. 
Hoàng hậu Dương Vân Nga được thờ cùng với vua Lê Đại Hành tại đền vua Lê ở khu di tích cố đô Hoa Lư và thờ cùng vua Đinh Tiên Hoàng tại đền Mỹ Hạ ở Gia Thủy, Nho Quan. Tại khu di tích đình - chùa Trung Trữ, Ninh Giang, huyện Hoa Lư, bà còn được phối thờ cùng cả hai vua. Nhân dân khi làm đền thờ, tô pho tượng Dương thái hậu, nhưng mặt pho tượng tô đỏ. Theo truyền thuyết dân gian thì việc tô mặt đỏ thể hiện sự ngượng ngùng của người đàn bà thờ hai đời chồng, một Hoàng hậu thờ hai đời vua.
Việc Dương Vân Nga - thái hậu nhà Đinh tôn Lê Đại Hành lên làm vua, mở đầu nhà Tiền Lê, rồi lại trở thành vợ vua Lê bị các nhà nho và sử gia trước đây lên án rất gay gắt. Khâm Định nhà Nguyễn bàn: "Đại Thắng Minh là tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ mình: Thật là không còn kiêng nể chút gì cả! Sử sách ghi chép, để cười nghìn thu". 
chuyen-ve-hoang-hau-hai-trieu-duong-van-nga-2
Tượng vua Lê Đại Hành trong đền thờ ở Hoa Lư. Ảnh tư liệu
Đại Việt Sử Ký toàn thư còn phê phán nặng nề hơn: "Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?"
Tuy nhiên, về sau giới nghiên cứu lịch sử đã có cái nhìn thông cảm hơn đối với hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga. Những nhà sử học bênh vực bà cho rằng, trong khi đất nước đang lâm nguy, nếu chỉ vì quyền lợi của dòng họ và ngôi vị của con mình thì có thể giữ được nước không? Sự lựa chọn và quyết định của bà trong hoàn cảnh ấy, đã biểu hiện thái độ chính trị sáng suốt của một người có khối óc lớn thức thời, xứng đáng được coi là anh hùng. 
Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong Việt Sử Giai Thoại cũng cho rằng: "Đinh Tiên Hoàng mất, vua nối ngôi là Đinh Toàn chỉ mới được 6 tuổi, Lê Hoàn làm Phó Vương, giữ quyền nhiếp chính, ấy là vì sự thể lúc đó buộc phải làm như vậy. Sau, vận nước lâm nguy, xã tắc không thể phó thác cho Đinh Toàn bé nhỏ, chư tướng cùng Dương Thái hậu tôn Lê Hoàn lên ngôi, và Lê Hoàn đã vui nhận ý tôn lập đó, ấy cũng bởi sự thể lúc bấy giờ buộc phải làm như vậy đó thôi. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc, kính thay".
Trung Sơn

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Biểu tượng chữ thập ngược đã bị Hitler 'bôi bẩn' như thế nào?


J.K | 27/01/2016 12:31




Chia sẻ:



ĐỌC NHIỀU NHẤT

"Bão táp Xô Viết": Chiến dịch đẫm máu nhất lịch sử nhân loại
10 bí ẩn khoa học mà "chưa một ai giải thích nổi"
Kì lạ mẹ khỉ nhận nuôi, chăm sóc chó con như con đẻ
Chim bay trên trời cũng bị thiêu sống vì sức mạnh của nhà máy này
Sự tàn khốc của môn võ "chết chóc" thời Hy Lạp cổ đại

Biểu tượng chữ thập ngược vốn mang ý nghĩa tốt đẹp được sử dụng rất lâu trước đó trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau đã bị Hitler bôi bẩn thành biểu tượng của quỷ dữ.
Bảng chữ cái "bí ẩn" giúp bạn phát âm tiếng Anh siêu chuẩn
Những điều thú vị về Pikachu - biểu tượng của Pokémon
Biểu tượng trên phòng vệ sinh nữ không phải là chiếc váy?


Rất nhiều người đã lầm tưởng rằng biểu tượng hình chữ thập ngược của Hitler biểu trưng cho chủ nghĩa phát xít độc tài được hắn lấy cảm hứng từ chữ Vạn của Phật giáo bởi xét về lịch sử thì tôn giáo này đã sử dụng từ trước đó rất lâu đời.

Biểu tượng quỷ dữ của Hitler.

Nhưng thực tế nguồn gốc của biểu tượng này vốn không thuộc về Hitler cũng như không phải Phật giáo sử dụng đầu tiên mà nó đã được rất nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác nhau sử dụng trong lịch sử.

Swastika được biết đến nhiều với biểu tượng chữ Vạn trong Phật giáo.

Biểu tượng này được các nhà nghiên cứu gọi là Swastika. Swastika của Đức quốc xã hoàn toàn không liên quan gì đến chữ Vạn của Phật giáo, mà chỉ liên quan đến Swastika của người Aryan.

Swastika là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất mà loài người đã sử dụng.

Nó đã được phát hiện trên những di chỉ khảo cổ có độ tuổi ít nhất hơn 3000 năm tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng Indus.

Swastika là một từ Ấn Độ cổ mang nghĩa là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành.

Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành T’roa (Troy), chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.

Trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau như trong riếng Hán gọi là “wan” (Vạn), tiếng HyLạp là tetraskelion, tiếng Pháp – croix gammé và tiếng Anh gọi là fylfot..

Biến thể của Swastika trong một số nền văn hóa khác nhau.

Phật giáo là nơi khởi nguồn của biểu tượng Swastika tại Châu Á. Trong các kinh Phật, Swastika thường xuất hiện ngay ở phần mở đầu. Trong tiếng Hán, chữ Vạn biểu thị cái bao trùm tất cả và sự vĩnh hằng .

Tại Nhật Bản, chữ Vạn của Phật giáo được gọi là manji, thể hiện sự hài hoà và cân bằng âm dương trong vũ trụ.

Tại Nam Âu, khu vực tiếp giáp với châu Á, dấu vết Swastika cũng đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hoá Byzantine – nền văn hoá thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải kéo dài từ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời trung cổ.

Dấu vết Swastika cũng xuất hiện trong các đền đài thuộc nền văn hoá Celtic nền văn hoá có xuất xứ từ Tây và Trung Âu từ khoảng 1000 năm trước CN kéo dài mãi đến nhiều thế kỷ sau CN, ảnh hưởng sâu rộng khắp Âu châu.

Biến thể của Swastika trong nhiều tôn giáo và các lĩnh vực khác nhau.

Cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng Heinrich Schliemann, người đã khám phá ra Swastika trên đống đổ nát của thành T’roa, đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng của người Aryan.

Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa dân tộc Đức.

Nhưng Swastika chỉ chính thức trở thành biểu tượng của quỷ dữ kể từ khi Hitler chính thức sử dụng biểu tượng đó.

Hitler say mê với những lý thuyết về chủng tộc Aryan, coi người Do Thái là kẻ thù của người Aryan và phải chịu trách nhiệm về những khủng hoảng trong nền kinh tế Đức.

Biểu tượng Swastika đã được tìm ở những cổ vật có niên đại hàng nghìn năm trước Công Nguyên.

Đến những năm 1920, khi Hitler trở thành lãnh tụ đảng quốc xã, hắn thấy đảng này cần phải có một lá cờ và biểu tượng riêng của nó.

Năm 1923, Hitler bị phạt tù 5 năm vì một hành động chống chính phủ. Trong tù, hắn viết tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi), trong đó viết:

“Lá cờ mới phải là một biểu tượng của cuộc đấu tranh riêng của chúng ta, đồng thời có hiệu quả cao như một áp phích tuyên truyền”.

Trở thành biểu tượng của Đức Quốc xã.

Hitler thiết kế ra hình ảnh cụ thể của lá cờ đó, trong đó Swastika của người Aryan được đặt chính giữa trên một hình tròn mầu trắng. Hắn viết trong Mein Kampf:

“Màu trắng thể hiện tư tưởng dân tộc, biểu tượng Sawstika thể hiện sứ mạng đấu tranh vì thắng lợi của người Aryan, đồng thời nói lên sự chiến thắng của tinh thần sáng tạo, một tinh thần đã và sẽ mãi mãi chống lại bọn Do Thái”.

Sau này chủ nghĩa phát xít bành trướng ra toàn thế giới và lá cờ chữ thập ngược của Hitler đã trở thành biểu tượng kinh hoàng của rất nhiều người dân Do Thái.

J.K