Hiển thị các bài đăng có nhãn Những điều kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những điều kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

Krakatoa: Vụ nổ có âm thanh lớn nhất trong lịch sử nhân loại


Trang Ly 

Krakatoa: Vụ nổ có âm thanh lớn nhất trong lịch sử nhân loại
Hàng nghìn người đã bị điếc vĩnh viễn từ vụ nổ có cường độ âm thanh khủng khiếp này! Ảnh minh họa.

Với cường độ âm thanh lên tới 200 dB trong bán kính 20km, vụ nổ của núi lửa Krakatoa đã hủy diệt thính giác của hàng nghìn người trong tích tắc.



Sự kiện núi lửa Krakatoa (tiếng Indonesia: Krakatau) phun trào cách đây 133 năm được đánh giá là vụ nổ có âm thanh lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Theo dữ liệu đo được thời bấy giờ, âm thanh của vụ nổ Krakatoa vang xa tới mức, người dân ở cách đó 4.800km vẫn có thể nghe thấy rõ ràng.
 Hình ảnh phục dựng mô tả vụ nổ có âm thanh lớn nhất lịch sử nhân loại. Ảnh minh họa.
Hình ảnh phục dựng mô tả vụ nổ có âm thanh lớn nhất lịch sử nhân loại. Ảnh minh họa.
Âm thanh vụ nổ phát ra trong bán kính 20km có cường độ khủng khiếp lên tới 200 deciben(dB)! Với cường độ này, tai con người hoàn toàn điếc vĩnh viễn (vì tầm nghe của chúng ta dao động từ 0 đến 125 dB).
Rất may, khoảng cách từ Việt Nam tới khu vực xảy ra vụ nổ là trên 3.000km, nên chúng ta chỉ cảm nhận được rung chấn và sóng xung kích từ Krakatoa mà không phải nhận hậu quả nghiêm trọng.
 Vòng bán kính thể hiện rung chấn rõ rệt của vụ nổ Krakatoa. Ảnh: Reddit.
Vòng bán kính thể hiện rung chấn rõ rệt của vụ nổ Krakatoa. Ảnh: Reddit.
Theo các nhà địa chất học, vụ núi lửa Krakatoa phun trào năm 1883 là một trong những thảm họa kinh hoàng nhất trong lịch sử hiện đại.
Vụ nổ tự nhiên này đã khiến ít nhất 36.000 người chết, toàn bộ vùng đảo có núi lửa bị nham thạch phá hủy không còn dấu hiệu của sự sống.
Sau vụ nổ, hàng triệu tấn nham thạch đổ xuống biển đã gây nên những cơn sóng thần khiến cho hàng nghìn người thiệt mạng.
Thảm họa khủng khiếp này đã xảy ra như thế nào?
Chuỗi ngày đen tối từ "cơn ác mộng" tự nhiên kinh hoàng bậc nhất lịch sử nhân loại
Núi lửa Krakatoa nằm tại vùng eo biển Sunda, khu vực giữa các đảo Java và Sumatra của Indonesia. Ngọn núi này cao 813m trên mực nước biển, diện tích mặt nước là 10,5 km2.
Các nhà địa chất cho hay, Krakatoa chưa thức giấc lần nào trong vòng 200 năm trước đó. Đây có thể là yếu tố khiến nhiều người thời bấy giờ không cảnh giác trước những dấu hiệu mà họ cho là bình thường dưới đây.
Theo một bài báo điều tra đăng trên tờ The Atlantic năm 1884 thì, không một người dân làng Anjer (cách núi lửa 40km) và Merak (cách 56km) nghe hoặc thấy bất cứ dấu hiệu nào cho thấy Krakatoa sẽ thức giấc.
Trong khi đó, làng Batvia (cách Krakatoa 128km) lại một phen hốt hoảng khi bỗng nhiên xuất hiện một tiếng nổ ầm ì, các cánh cửa và cửa sổ khi đó rung lắc một cách bất thường.
Tiếng nổ cảnh báo này xảy ra vào tháng 5/1883, cách thời điểm núi lửa Krakatoa thực sự thức giấc 3 tháng. Tuy nhiên, không ai nghĩ rằng đó là dấu hiệu báo trước "cơn ác mộng" thực sự kinh hoàng của tự nhiên, hủy diệt hoàn toàn sự sống của các khu làng xung quanh.
Vào 12h53 ngày 26/8/1883, vụ nổ ban đầu đã giải phóng vùng đám mây bụi khí rộng 24km. Đến lúc này, nhiều người vẫn chưa tin rằng Krakatoa sắp thực sự gây ra đại họa.
5h30 sáng ngày 28/8/1883, 4 vụ nổ khủng khiếp liên tục trong 4 giờ đồng hồ đã nhấn chìm toàn bộ người dân, các ngôi làng của vùng đảo xung quanh dưới lớp magma nóng rẫy.
 Dòng dung nham nóng rẫy đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người. Hình minh họa.
Dòng dung nham nóng rẫy đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người. Hình minh họa.
Thảm kịch kinh hoàng xảy đến khi hàng chục nghìn người còn chưa tỉnh giấc hẳn sau một đêm yên bình.
Thậm chí, sau vụ nổ vài ngày, người dân thế giới vẫn chưa hết bàng hoàng với thảm kịch mà không có bất cứ một dự báo nào được đưa ra trước đó!
Những con số chết chóc của "hung thần" Krakatoa
Dưới đây là những con số "chết chóc" được liệt kê sau khi núi lửa Krakatoa phun trào:
Ước tính, núi lửa Krakatoa đã bắn ra 25 km³ đá, tro và đá bọt vào một vùng không gian rộng 442km. Bụi, tro dày tới mức tia nắng Mặt Trời không thể xuyên qua để đến mặt đất trong vòng gần 2 tuần.
 Núi lửa phun trào nhả ra hàng km khối tro bụi, khí nóng. Ảnh minh họa.
Núi lửa phun trào nhả ra hàng km khối tro bụi, khí nóng. Ảnh minh họa.
Sức công phá khủng khiếp của nó tương đương với 200 triệu tấn thuốc nổ TNT, gấp 13.000 lần sức hủy diệt của quả bom nguyên tử mà Mỹ từng thả xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945.
Ít nhất 36.000 người thiệt mạng sau thảm kịch tự nhiên khủng khiếp này, 165 thành phố và thị trấn gần đó bị phá hủy hoàn toàn, 132 ngôi làng bị tàn phá nghiêm trọng. Hàng chục nghìn người chết ngay tức khắc do bị biển dung nham nóng nhấm chìm.
Dư chấn của vụ nổ đã tạo nên cơn sóng thần cao gần 30m đổ về 2 hòn đảo Java và Sumatra, cướp đi mạng sống của hàng nghìn người.
Số còn lại chết vì nhiễm tro bụi và chấn động thần kinh vì phải chịu đựng âm thanh vụ nổ quá sức chịu đựng của con người.
Hậu quả của vụ phun trào núi lửa khủng khiếp này đã gây họa không chỉ cho cư dân vùng xung quanh mà còn cho toàn cầu.
 Hình ảnh phục dựng vụ núi lửa Krakatoa phun trào nhìn từ không gian.
Hình ảnh phục dựng vụ núi lửa Krakatoa phun trào nhìn từ không gian.
Vụ nổ đã khiến toàn thế giới rung chuyển trong vài phút. Thậm chí, sóng xung kích lan ra toàn địa cầu 5 ngày sau vụ nổ và gây chấn động không hề nhỏ đển đảo Rodrigues (thuộc quần đảo Mascarene ở Ấn Độ Dương) cách đó gần 5.000km.
10 ngày sau thảm họa tự nhiên khủng khiếp này, Trái Đất chìm trong lớp khói bụi dày. Lượng lưu huỳnh trong tro phản ứng với ozon khí quyển gây ra cảnh hoàng hôn trên toàn thế giới trong 3 tiếng.
13 ngày sau vụ nổ, ánh Mặt Trời mới có thể xuyên qua lớp bụi dày để chiếu sáng cho Trái Đất.
4 năm sau vụ nổ, nhiều nơi trên thế giới phải hứng chịu "mùa đông núi lửa": Nhiệt độ toàn cầu giảm gần 2 độ, tuyết rơi kỷ lục được ghi nhận nhiều nhất trong lịch sử.
Năm 1927, phún thạch của núi lửa đã cho ra đời một hòn đảo mới có tên Anak Krakatoa (còn gọi là "Đứa con của Krakatau"). Hòn đảo này có bán kính gần 2 km và cao hơn 200 m so với mực nước biển.
 Hình ảnh núi lửa Anak Krakatoa trên hòn đảo cùng tên, hậu duệ của Krakatoa. Ảnh: NASA.
Hình ảnh núi lửa Anak Krakatoa trên hòn đảo cùng tên, "hậu duệ" của Krakatoa. Ảnh: NASA.
Chính hòn đảo mới này cũng xuất hiện một núi lửa "con" mới tên Anak Krakatoa. Ngày nay, ngọn núi lửa con này vẫn đang hoạt động.
Cho đến nay, 133 năm kể từ ngày thảm họa tự nhiên khủng khiếp bậc nhất nhân loại xảy ra, nhiều người vẫn không khỏi bàng hoàng trước hậu quả hủy diệt mà nó mang đến con người và tự nhiên.
Hi vọng trong tương lai, các nhà khoa học sẽ có những công trình nghiên cứu nhằm cảnh báo những thảm họa thế giới này, giúp con người có những biện pháp phòng và tránh hiệu quả.
*Bài viết dịch từ các nguồn: MentalflossLivescienceWikipedia
theo Trí Thức Trẻ

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

Phát hiện gây sốc trong hầm mộ Shakespeare cùng lời nguyền bí ẩn

Nguyễn Hằng | 28/03/2016 11:11

Theo các nhà khảo cổ học, rất có thể hộp sọ của đại thi hào Shakespeare bị đánh cắp từ hơn 200 năm trước.
Mới đây, các nhà nghiên cứu đã tiến hành quét radar hầm mộ của đại thi hào William Shakespeare được cho là tại nhà thờ Holy Trinity ở Stratford-upon-Avon (Anh). Họ cho biết rất có thể hộp sọ của nhà soạn kịch lỗi lạc này bị đánh cắp từ hơn 200 năm trước.

Lời nguyền bí ẩn đáng sợ

Phát hiện này thực sự gây sốc vì trước đó hầm mộ được bảo vệ bởi một tấm bia đá ẩn chứa lời nguyền đầy kỳ bí và khó lý giải của chính Shakespeare nhằm cảnh báo và ngăn cản những kẻ có ý định xâm phạm đến sự yên nghỉ của ông:

“Hỡi những người bạn tốt, xin đừng đào nắm xương tàn bên trong. Cầu nguyện cho ai tránh xa ngôi mộ này, và nguyền rủa kẻ dám động đến xương cốt của ta.”



Hầm mộ của Shakespeare .

Có vẻ như lời nguyền thực sự có tác dụng khi vào năm 2008, ngôi mộ được tu sửa. Nhưng không có công nhân nào dám di chuyển một hòn đá, đừng nói đến là xương cốt của ông.

Nhiều người vẫn tin rằng, chính nhờ sự “phong ấn” của lời nguyền này làm cản bước những kẻ đào trộm mộ. Nhưng thực hư ra sao thì vẫn còn là dấu hỏi lớn, chưa có lời giải đáp.

Hộp sọ của Shakespeare có thực sự mất tích?

Được sự cho phép của nhà thờ Holy Trinity, các nhà khảo cổ đã sử dụng radar quét xuyên qua mặt đất để khám phá bí ẩn về cái chết của Shakespeare suốt 400 năm qua.

Theo nhà khảo cổ học Kevin Colls tại Đại học Staffordshire nhận định, phát hiện này có thể phù hợp với câu chuyện vẫn được đồn đại bấy lâu rằng hộp sọ của Shakespeare đã bị đánh cắp từ năm 1794.

Ông Colls nói: “Chúng tôi phát hiện nơi an táng có một sự xáo trộn bất thường ở phần đầu và trước đó có một câu chuyện chỉ ra rằng có kẻ đã lẻn vào đây mang xương sọ của đi.”

“Tôi rất tin giả thuyết hộp sọ của Shakespeare không nằm tại nhà thờ Holy Trinity”.



Kết luận gây sốc này càng củng cố thêm cho câu chuyện hư cấu được xuất bản trên tạp chí Argosy năm 1879 về những tên trộm mộ săn tiền thưởng đã đánh cắp hộp sọ từ thế kỉ 18.

Tuy nhiên, người ta vẫn bán tín bán nghi về câu chuyện này suốt nhiều năm qua, có lẽ là do lời nguyền nổi tiếng bí ẩn kia.

Phát hiện cho thấy hầm mộ của Shakespeare và vợ của ông, là bà Anne Hathaway, đều chỉ cách mặt đất chừng 1 mét và chưa tìm thấy dấu vết của kim loại nên rất có khả năng là không có quan tài nào trong hầm mộ.

Do đó, các nhà nghiên cứu nghi ngờ Shakespeare và vợ có thể được quấn vải liệm rồi chôn xuống đất thay vì được phải chôn cất trong quan tài.

Trong hành trình tìm kiếm hộp sọ bị đánh cắp của nhà soạn kịch Shakespeare, đoàn nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và phân tích tại nhà thờ ở làng Worcesrttershire, Beoley, cách thành phố Stratford khoảng 30 km về phía Tây Bắc.

Nơi đây từng được đồn thổi là có hộp sọ của Shakespeare. Qua phân tích, các nhà nghiên cứu đã phát hiện hộp sọ tại nhà thờ ở Beoley thật ra là của một người phụ nữ khoảng 70 tuổi khi qua đời và không rõ danh tính.


William Shakespeare (1564-1616) sinh ra và lớn lên ở Stratford-upon-Avon, được coi là nhà văn vĩ đại nhất của nước Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại.

Ông để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ và kinh điển: 38 vở kịch, 154 bản sonnet…

Trước những thông tin trên, ông Patrick Taylor làm việc tại nhà thờ Holy Trinity ở Stratford cho biết: “Chúng tôi không tin vào giả thuyết hộp sọ đã bị lấy cắp trừ phi mở cửa hầm mộ.”

Ông Taylor cho biết thêm: “Chúng tôi sẽ tiếp tục tôn trọng sự linh thiêng nơi an nghỉ của ông ấy theo đúng mong muốn của Shakespeare và không để nơi này bị quấy rầy.

Chúng ta sẽ phải sống cùng với bí ẩn này vì không biết được chính xác có những gì đang nằm bên dưới phiến đá”.

Hiện cuộc thăm dò khảo sát vẫn đang được diễn ra và kết quả sẽ được tiết lộ phần nào trong những thước phim tài liệu được công bố rộng rãi trên truyền hình nước Anh nhân dịp kỉ niệm 400 năm ngày mất sắp tới của ông.

Chính vì thế mà cuộc đời và cái chết cũng như lời nguyền kỳ bí của ông luôn khiến rất nhiều người tò mò và khám phá.

Những thắc mắc về ông cũng giống như đối với nhân vật Hamlet trong vở kịch kinh điển do chính ông tạo ra vậy. Liệu rằng giả thuyết về hộp sọ mất tích của nhà viết kịch nổi tiếng Shakespeare có thật hay không?

Nguồn: News Discovery, Reuters
Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Bạn biết gì về huyền thoại "Tứ linh" trong văn hóa Việt Nam?

Hoa Hướng Dương | 

Bạn biết gì về huyền thoại "Tứ linh" trong văn hóa Việt Nam?

Tứ linh có nghĩa là 4 loài linh vật, chúng có mặt trong văn hóa của nhiều nước phương Đông. Tứ linh bao gồm: Long, Lân, Quy, Phụng.

Nguồn gốc xa xưa của Tứ linh
Thực tế, tứ linh gồm Long, Lân, Quy, Phụng được dân gian bắt nguồn từ bốn linh thần:Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước.
Chúng được người xưa tạo ra từ bốn chòm sao cùng tên ở bốn phương trời. Chúng mang bên mình bốn nguyên tố tạo thành trời đất theo quan niệm của người xưa (lửa, nước, đất và gió).
Và việc chọn nơi để làm thành kinh đô phải hội tụ yếu tố hòa hợp giữa các nguyên tố ấy.

1. Đứng đầu tứ linh - Long

Long (Rồng) đứng đầu Tứ linh vì có sức mạnh, trí tuệ và quyền uy bậc nhất, đây là sinh vật tổng hợp sức mạnh của những con vật khác như rắn, hổ, chim ưng, sư tử, hươu,...
Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở các nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng.
Hình tượng rồng trong văn hóa Việt Nam
Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử.
Dân tộc ta có truyền thuyết về con Rồng từ rất sớm bởi nó gắn liền với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, với sự tích "Con Rồng Cháu Tiên"... Hình ảnh con rồng đã dần dần ǎn sâu vào tâm thức của người Việt.
2. Linh vật nhân từ - Lân
Dù cho Lân được mô tả như có sừng của loài Nai, tai Chó, trán Lạc Đà, mắt Quỷ, mũi Sư Tử, miệng rộng, có thân Ngựa, chân Hươu, đuôi Bò... nhưng linh vật này rất hiền lành theo quan niệm dân gian ta.
Lân là linh vật báo hiệu điềm lành, là biểu tượng cho sự nguy nga tráng lệ, sự trường thọ và niềm hạnh phúc lớn lao.
Kỳ lân mang trong mình tất cả những phẩm chất đặc trưng của một con vật nhân từ, theo truyền thuyết, khi di chuyển, nó luôn tránh giẫm lên các loại côn trùng hay cỏ mềm dưới chân mình.
Loài Lân không bao giờ ăn thịt hay làm hại bất cứ con vật nào, đặc biệt nó không bao giờ uống nước bẩn, nó chỉ ăn cỏ, nên có tên gọi khác là Nhân thú.
Kỳ lân có tính linh, khi có vua chúa, thánh nhân xuất thế cứu đời thì nó sẽ xuất hiện báo trước điềm lành, sắp có thái bình thịnh vượng.
Quan niệm dân gian Việt Nam về Lân
Lân theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tượng trưng cho sự thái bình, yên ổn. Lân cũng tượng trưng cho lộc phúc, may mắn, thịnh vượng.
Chúng có dung mạo kỳ dị, là hình tượng nghệ thuật được thêu dệt từ trí tưởng tượng của người xưa nhưng đồng thời ẩn chứa trong đó một sức mạnh tâm linh to lớn.
Lân thường được với tư cách đội tòa sen làm chỗ dựa cho Văn Thù bồ tát hay các Hộ Pháp. Nhiều khi ngồi trên đầu cột cổng hay xuất hiện trên mái nhà.
3. Linh vật trường tồn - Quy
Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình chắc chắn. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài.
Rùa không ăn nhiều, nhịn ăn tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh.
Quy đã xuất hiện trong truyện cổ tích từ thời An Dương Vương. Trong tạo hình, người ta bắt đầu thấy Quy từ năm 1126 trong tư cách đội bia ở chùa Linh Ứng, Thanh Hóa, từ đó tồn tại thường xuyên dưới hình thức đội bia; đến tận thế kỷ 15 mới thấy đội hạc.
Quy là vật hợp bởi có cả âm lẫn dương: Bụng phẳng tượng trưng cho đất (âm), mai khum tượng trưng cho trời (dương). Hình tượng rùa đội bia tượng trưng cho hạnh phúc, phát triển và sự chịu đựng.
Quy là cao quý, nhiều khi nó là chủ nguồn nước (rùa phun nước thiêng), là một linh vật của đất Phật.
Rùa đầu rồng - Long Quy
Là linh vật  tốt lành mang ý nghĩa trường thọ, có khả năng chiêu tài hóa sát, trấn trạch, rất lợi về tài lộc, bền vững và thịnh vượng lâu dài.
Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa.
Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo.
Trong một số ngôi chùa thời Lý - Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá, làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai.
4. Linh vật bất tử - Phụng
Nhắc đến sư bất tử và tái sinh, người ta không thể không nhắc đến 1 loài chim chỉ có trong truyền thuyết: Phụng.
Phượng Hoàng là sự kết hợp các đặc điểm xinh đẹp nhất của nhiều giống chim: đầu gà, chiếc cổ cao của chim hạc, và bộ đuôi thướt tha rực rỡ của loài công.
Phụng (Phượng) là tên con trống, con mái gọi là Loan. Phụng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công...
Các bộ phận của phụng đều có ý nghĩa của nó: Đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất.
Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phụng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ.
Vì thế phụng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phụng lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu.
Sinh vật bất tử.
Vòng đời của chúng không bao giờ kết thúc. Khi bị thương nặng hoặc cảm thấy mình quá già yếu (không dưới 500 tuổi), phượng hoàng sẽ tự xây một cái tổ bằng lông của mình, rồi tự thiêu bằng chính nguồn nhiệt của bản thân.
Từ trong đám tro tàn, nó sẽ tái sinh dưới hình dạng một chú chim non. Với khả năng tái sinh này mà Phụng là biểu tượng của cả sự sống và cái chết.
Vì thiêng liêng cao quý nên loài chim này thường sống trên những ngọn núi cao, xa xôi mà con người không thể vươn tới.
Nếu có ai đó muốn tìm được chúng để mưu cấu sức mạnh hoặc sự bất tử sẽ phải vượt qua những thử thách chết người.
theo Trí Thức Trẻ

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Cụ tổ bí ẩn của 830 triệu đàn ông châu Á là ai?


Theo một nghiên cứu mới đây, hơn 800 triệu đàn ông châu Á hiện nay có chung một nguồn gốc, cùng là hậu duệ của 11 nhà lãnh đạo thời xưa, họ là ai?
Các nhà di truyền học đã tìm ra chứng cứ cho thấy rằng hơn 800 triệu đàn ông châu Á hiện nay là hậu duệ của 11 nhà lãnh đạo thời xưa, trong đó có cả Thành Cát Tư Hãn.
Thành Cát Tư Hãn.
Các nhà khoa học đã phân tích nhiễm sắc thể Y của hơn 5.321 người đàn ông châu Á từ 127 cộng đồng khác nhau trên khắp châu Á gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Mông Cổ, Trung Đông. Sở dĩ nghiên cứu nhiễm sắc thể Y vì đó là thứ chỉ tồn tại trong cơ thể đàn ông.
Sau khi phân tích, kết quả cho thấy 11 trình tự sắp xếp đặc biệt phổ biến nhất trong nhiễm sắc thể Y của nam giới châu Á, tức là chúng thuộc về 11 người đàn ông đã sống từ những năm 2100 trước Công nguyên. Chắc chắn họ phải có vai trò lãnh đạo mới có thể sinh nhiều con như vậy.
Mười một cụ tổ của hơn 800 triệu đàn ông châu Á chính là Thành Cát Tư Hãn cùng 10 nhà lãnh đạo khác. Họ nhận thấy rằng 37,8% trong số hơn 5.000 người đàn ông trong nghiên cứu trên là hậu duệ của một người trong số 11 cụ tổ trên.
Nếu áp dụng tỉ lệ này với toàn bộ dân số châu Á thì có nghĩa là khoảng hơn 830 triệu nam giới châu Á hiện nay đang mang nhiễm sắc thể Y của một trong số 11 nhà lãnh đạo này.
Giác Xương An (mất năm 1583) được cho là một trong số những người có hàng triệu hậu duệ. Theo một nghiên cứu trước đó, ông là tổ tiên của hơn 1,5 triệu người ở Trung Quốc và Mông Cổ hiện nay. Cháu nội của Giác Xương An là người sáng lập triều đại nhà Thanh, cai trị Trung Quốc từ những năm 1644 tới 1912.
Giác Xương An có rất nhiều vợ và các thê thiếp nên khả năng ông là một trong số 11 người có nhiều hậu duệ châu Á nhất.
Bản đồ này cho thấy 10 trong số 11 dòng họ đã phát tán nguồn gen như thế nào qua các châu lục với những khoảng thời gian tương ứng.
Một nghiên cứu khác năm 2003 từng kết luận rằng khoảng 16 triệu đàn ông châu Á là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn (1163-1227), người đã sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ và chinh phục những vùng đất láng giềng như Hàn Quốc, Trung Quốc, Pakistan, Triều Tiên, Iran, miền nam nước Nga, Đông Âu hiện nay.
Đế chế của ông đã tồn tại trong suốt 80 năm và trải dài từ Á sang Âu. Điều đó đồng nghĩa với việc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn có rất nhiều cơ hội để phát tán gene của họ. Với các căn cứ trên, các nhà khoa học cho rằng có thể Thành Cát Tư Hãn chính là tổ tiên của 830 triệu đàn ông châu Á.
Tom Robinson, một giáo sư ngành kế toán tại Anh, là người đàn ông đầu tiên không sinh sống ở châu Á được xác định là mang nhiễm sắc thể của Thành Cát Tư Hãn. Tổ tiên mấy đời của ông đến từ vùng Caucacus, gần Biển Đen.
Giáo sư Mark Jobling, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết ông và các cộng sự cần phải nghiên cứu thêm trước khi xác định chính xác 11 người đàn ông có hậu duệ đông nhất ở châu Á là ai.
“Việc sinh đẻ nhiều con thường gắn với những người có địa vị xã hội cao. Những người đàn ông có quyền lực lớn và khả năng sinh sản cao thường có nhiều vợ và thê thiếp”, giáo sư Mark bình luận trong một báo cáo trên tạp chí European of Human Genetics.
Bên cạnh đó, có thể một người khác trong số 11 người đàn ông trên đã từng sống vào khoảng những năm 700TCN ở phía bắc Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay, và một cụ tổ khác đến từ Iran, sống khoảng những năm 1100.
Những hậu duệ ở khu vực Đông Nam Á và lân cận có thể có chung tổ tiên sống vào khoảng thời gian từ năm 2100TCN tới 1500TCN. Thời gian này những người nông dân đã di cư khắp nơi từ Myanmar sang Lào, Thái Lan và Campuchia.
Hiện tại, cách duy nhất để xác định chính xác danh tính của 11 người đàn ông trên là tìm hài cốt của họ, lấy mẫu ADN và tiến hành phân tích. Nếu ngôi mộ của Thành Cát Tư Hãn được khai quật thì các nhà khoa học có thể xác định quan hệ giữa ông và hàng triệu hậu duệ của ông trên toàn thế giới.
Danh Tuyên (theo Daily Mail)