Hiển thị các bài đăng có nhãn Người nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Đối thủ duy nhất xứng tầm thiên tài Leonardo Da Vinci là ai?




Liệu rằng ai là người đủ tài năng, tri thức và sự uyên bác để có thể là đối thủ của Da Vinci - Thiên tài toàn năng nước Ý?


Thời kỳ phục hưng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ và rực rỡ nhất của nghệ thuật và cả khoa học, nó sản sinh ra những người khổng lồ theo cách nói của Mác.
Trong số đó thiên tài toàn diện Leonardor Davinci chính là hình mẫu tiêu biểu cho thời đại mình.
Không chỉ là họa sỹ tài ba xuất chúng với những bí ẩn bên trong các bức tranh của mình, ông còn là một nhà khoa học đại tài.
Trong các phác thảo (Codex) ông để lại hàng nghàn ghi chép khoa học được minh họa bằng tranh vẽ dưới tài năng nghệ thuật thần kỳ của mình mà ở đó lần đầu tiên những minh họa 3 chiều được phát triển và hoàn thiện.

Các ghi chép của ông đi trước thời đại với các phát minh về máy bay, giải phẫu, thời trang, cầu đường, xe tăng, máy lặn, tàu ngầm, đồ bơi, xe đạp, thuyết nhật tâm, địa lý,…
Người ta cho rằng những bản thảo đó chỉ là một phần rất nhỏ trong những tập bản thảo bị mất hay thất lạc của ông. Do đó những gì chúng ta biết về Da Vinci mới chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng phát minh vô tận mà ông để lại.
Một người hoàn hảo như vậy (thiên tài toàn năng) liệu có phải là người không có đối thủ? Theo danh sách mà Tony Buzan và cộng sự đưa ra thì Leonardor Da Vinci được xếp vị trí thiên tài vĩ đại nhất mọi thời đại!

Vậy có lẽ người có thể xem là đối thủ của ông hẳn là một người cũng vĩ đại không kém!
Thật vậy, đương thời người có thể sánh tên với ông chỉ có một, đó là đồng nghiệp và đôi khi cũng là đối thủ: Michael Angelo.
Trong số những họa sỹ nổi tiếng lúc bấy giờ, nổi tiếng nhất là Leonardor Da Vinci, Michael Angelo và Rafael.
Nhưng trong số họ chỉ có Michael Angelo có thể trở thành đối thủ xứng tầm của Leonardor Da Vinci, còn Rafael là "fan hâm mộ" của 2 tên tuổi trên và thậm chí còn học hỏi ở họ rất nhiều.
Vậy tại sao Michael Angelo lại được đánh giá cao như vậy?

1. Sự tương phản giữa 2 thiên tài
Đều là các thiên tài phục hưng nhưng họ lại hoàn toàn trái ngược nhau, thâm chí tương phản, nếu Leonardor Da Vinci là hiện thân của thiên tài cao quý, với những bộ đồ hợp thời trang, phong thái tao nhã, điềm đạm, bí ẩn và khuôn mặt thanh tú…
Thì ngược lại, Michael Angelo lại giống một người nông dân, ông thích lối sống gần gũi với tầng lớp lao động cực khổ, quần áo lôi thôi lếch thếch, thẳng tính, dễ nổi nóng, cục tính,…
Nếu Leonardor Da Vinci thường xuyên tiếp xúc với tầng lớp quý tộc và được miêu tả là người hài hước, hóm hỉnh, đa tài thì Michael Angelo lại được miêu tả như một người lao động dơ dáy, nóng nảy và không thích tầng lớp quý tộc.
Trong đời sống cá nhân, Michael Angelo là người đạm bạc, ông nói với người học việc Ascanio Condivi: “ Dù ta có thể giàu có thế nào nữa, ta đã luôn sống như một người nghèo khổ”.
Ascanio Condivi nói rằng ông không thích thức ăn và đồ uống : “ông ăn vì cần thiết hơn là niềm vui, ông thậm chí còn ngủ trong đống quần áo và giày tất của mình”.
Người viết tiểu sử về Angelo là Paolo Giovio nói: “Bản chất của ông quá mạnh mẽ và vụng về khiến các thói quen ở gia đình ông rất bất tiện”. Có thể ông không chủ tâm vì bản chất của ông là một người cô độc và u sầu.
Ông tự mình rút ra khỏi tình bằng hữu với loài người và chọn cuộc sống cô độc của một thiên tài.
Nếu Leonardor Da Vinci với đức tính khiêm tốn, điềm đạm thì Michael Angelo lại là người kiêu ngạo và thẳng thắn.
Trong quan điểm sáng tác, Leonardor Da Vinci xem nghệ thuật và khoa học phải bắt nguồn từ tự nhiên, ông nghiên cứu về địa lý, giải phẫu,.. rất kỹ lưỡng nhằm tạo cơ sở cho sự sáng tạo và phát minh.
Ngược lại Michael Angelo xem tự nhiên là kẻ thù số một cần bị loại bỏ, ông muốn vượt lên cả bản thân và tự nhiên trong những sáng tác của mình.
Tính khí và quan điểm sáng tạo của họ là hoàn toàn đối lập nhau như nước với lửa.
Anh hùng trọng anh hùng nhưng đương thời Michael Angelo rất ghét Leonardor Da Vinci và có cái nhìn không mấy thiện cảm về Da Vinci, ông thường buông lời chế nhạo hay khiêu khích.
Điều này khiến Leonardor Da Vinci rất khổ tâm vì ông thực lòng ngưỡng mộ và muốn kết tình bằng hữu với Michael.

2. Tài năng



Cả 2 đều là các thiên tài đa năng trong nhiều lĩnh vực và đạt nhiều thành tựu trong các lĩnh vực đó. Michael Angelo là thiên tài điêu khắc, hội họa, kiến trúc,…
Tượng David

Thậm chí ông còn là nhà thơ, nhà triết học,…ông cũng để lại hàng ngàn những bản phác thảo có giá trị nghệ thuật cao:



Tài năng của họ và sức sáng tạo vô tận khiến rất khó có thể nói ai tài giỏi hơn ai, nhưng chắc chắn có thể khẳng định họ không hề thua kém nhau trong nghệ thuật
  • theo Trí Thức Trẻ

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Bùi Giáng & Mưa Nguồn

Giai đoạn Mưa nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng còn giữ niềm tin ở mùa xuân, ở trần thế trong thời gian, ở Mùa xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong bài Bờ xuân tiếp theo:
Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích. (Mưa nguồn, tr.38-39)
Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh sáng, long lanh thinh sắc. Trong niềm hoan lạc của đất trời, con người an tâm vui hưởng, vì tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào một cánh én:
Én đầu xuân tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
                                                                     (Mưa nguồn, tr.62)
Người ta thường nói: xuân về. Chữ về tin tưởng an lạc như Về Cố Quận. Xuân về với gió đông, xuân mang thương nhớ trở về (Nguyễn Bính). Chữ về gây cảm giác ấm cúng, thân thiết, tin cậy:
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng
Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại
Với dòng trong em hẹn ở bên đường
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi
Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi còn giữ mãi hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.
                                                                       (Mưa nguồn, tr.61)
Thơ là hạnh phúc của ngôn từ như trong Một ngày lễ hội, tên một bài thơ Holderlin được Heidegger bình. Hạnh phúc trong lời nói, của lời nói, dù nói để chẳng nói gì: thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia. Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa kia làm gì? Bờ nước ấy: ấy nào ? Nào ai biết. Chỉ biết là không gian và thời gian hạnh phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc không cần lý do, không cần tự thức.
Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài, cổng xô còn vọng... Bùi Giáng mách ta thế, và có lần kể:
Xưa kia tôi đã có lần
Và bây giờ đã đôi phần tôi quên
                                                            (Ca dao, Mưa nguồn, tr.143)
Nhà thơ không cho biết đã có lần làm gì, nhớ gì và quên gì, nhưng chúng ta cảm rằng xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ tần ngần, ngập ngừng, lơ đãng. Hồ Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đã thật thà hơn:
Có lần tôi thấy tôi yêu
Dáng cô thôn nữ khăn điều cuối thôn
Xa rồi, nay đã lớn khôn
Biết cô hàng xóm có còn nhớ nhau?
Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh phúc của ngôn ngữ:
Xin yêu mãi và yêu nhau mãi mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Hạnh phúc ấy là Xuân trần gian, ăm ắp trong thơ Bùi Giáng, thời điểm mưa nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó, trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ vô tận vui cho một tập di cảo sắp sửa được xuất bản.
Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây chỉ là một minh triết về cuộc sống. Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc nào cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương đối của sự đời. Vui ở đây hiểu theo nghĩa hiền triết Ðông phương, như cá vui, bướm vui trong Nam Hoa kinh của Trang Tử. Nhìn dưới góc độ tư tưởng hiện sinh của phương Tây, thì ngược lại, có thể nói đến “bi kịch”.
Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm ký: Ngày Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa nguồn, tr.57). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó nằm trong mạch Vũ trụ ca của Huy Cận:
Lòng chim gieo sáng dệt vân sa
Trên bước đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép rằng: vui một sáng
Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta
                                                              (Áo xuân, 1942)
Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ đề “chết từ sơ ngộ”, và Màu hoa trên ngàn sơ khai đã là Màu hoa cuối cùng:
Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng
                                                                   (Chớp biển, tr.45)
Bùi Giáng, rất sớm, đã linh cảm rằng mình suốt đời đứng nguyên ở một tọa độ, xác định bởi một không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên Xuân:
Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu? Xưa chính ở chỗ này
                                                           (Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82)
Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong trời đất, cùng với niềm vui nào đó. Nhưng có một hạnh phúc khác, mùa xuân khác không bao giờ trở lại với nhân gian:
Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào
(…) Người viết mãi một màu xanh cho cỏ
Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…
                                                           (Bài ca Quần Đảo, tr.22-23)
Rồi suốt đời, khi sáng suốt, khi cuồng điên, qua hàng vạn trang sách, người thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho mình một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.
Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt
Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ
                                                              (Bài ca Quần Đảo, tr.11)
Năm mười sáu tuổi đã xảy ra biến cố gì trong đời tác giả làm chìm tắt mùa xuân? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo lời ông kể ở đầu sách Lời Cố Quận.
Xuân về xuân lại xuân đi
Ði là đi biệt từ khi chưa về
Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.
Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một.

Bút tích của Bùi Giáng
Đặng Tiến